NUÔI TÔM SÚ TRÊN AO LÓT BẠT – HƯỚNG ĐI MỚI TỪ HỆ THỐNG NUÔI TÔM THẺ KÉM HIỆU QUẢ
Từ một hệ thống ao nuôi tôm thẻ siêu thâm canh hoạt động kém hiệu quả, hộ ông Phạm Văn Quyền, ấp 4, xã Tam Giang, tỉnh Cà Mau đã chuyển sang nuôi tôm sú thâm canh trên ao lót bạt. Sau thời gian nuôi, mô hình bước đầu cho thấy tôm sinh trưởng tốt, kích cỡ lớn, giá bán cao và mở ra hướng sản xuất đáng quan tâm trong điều kiện độ mặn thấp.
Đoàn công tác Trung tâm Khuyến nông khảo sát, trao đổi tại khu nuôi tôm sú ao lót bạt.
Ngày 12/8/2026, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Cà Mau tổ chức đoàn khảo sát, đánh giá thực tế mô hình nuôi tôm sú thâm canh trên ao lót bạt tại ấp 4, xã Tam Giang, do ông Phạm Văn Quyền là chủ hộ. Đoàn khảo sát do ông Nguyễn Văn Trung, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Cà Mau làm Trưởng đoàn, cùng cán bộ kỹ thuật của Trung tâm, đại diện Công ty Cổ phần CP và một số đơn vị liên quan tham gia.
Điểm đáng chú ý của mô hình là chủ hộ không đầu tư xây dựng hoàn toàn mới mà tận dụng hệ thống công trình nuôi tôm thẻ siêu thâm canh trước đây để chuyển sang nuôi tôm sú. Khu nuôi có tổng diện tích 7 ha, gồm 17 ao, trong đó có 15 ao nuôi và 2 ao ương; diện tích trung bình ao nuôi khoảng 1.500 m² và ao ương khoảng 400 m². Hệ thống ao được xây dựng từ năm 2017 và đã được nâng cấp, thay bạt vào năm 2022.
Trước đó, từ đầu năm 2025, tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, hệ thống ao nuôi xuất hiện các tác nhân gây bệnh như vi khuẩn, nấm và đặc biệt là EHP, làm tôm chậm phát triển, kéo dài thời gian nuôi và hiệu quả sản xuất giảm sút. Trước khó khăn đó, đầu năm 2026, thông qua sự tiếp cận với Công ty Cổ phần CP, Trung tâm Khuyến nông và các doanh nghiệp nuôi tôm, chủ hộ đã chuyển hướng sang áp dụng quy trình nuôi tôm sú thâm canh trên ao lót bạt.
Hệ thống ao lót bạt và công trình phục vụ nuôi tôm sú thâm canh tại mô hình.
Theo báo cáo khảo sát, mô hình được thực hiện theo 3 giai đoạn, với mật độ nuôi được điều chỉnh phù hợp theo từng giai đoạn phát triển của tôm.
Ở giai đoạn 1, tôm được ương với mật độ khoảng 300 con/m² trong thời gian 20–25 ngày. Khi tôm đạt kích cỡ phù hợp sẽ được chuyển sang giai đoạn 2 với mật độ khoảng 150 con/m². Đến giai đoạn 3, mật độ được giảm xuống khoảng 60–70 con/m² để tiếp tục nuôi đến kích cỡ thương phẩm.
Một điểm đáng chú ý là từ giai đoạn 2, hộ nuôi sử dụng máy cho ăn. Theo đánh giá thực tế của đoàn khảo sát, tôm bắt mồi tốt và phát triển khá ổn định. Việc ứng dụng máy cho ăn giúp người nuôi chủ động hơn trong quản lý lượng thức ăn, đồng thời phù hợp với đặc tính phân bố của tôm trong ao.
Tôm sú được kiểm tra trực tiếp trong quá trình khảo sát tại mô hình.
Nguồn nước trước khi đưa vào ao nuôi được xử lý qua các công đoạn lắng lọc, khử trùng; nước thay được xử lý bằng chlorine khí. Trong giai đoạn đầu, việc quản lý chất thải chủ yếu thông qua sử dụng chế phẩm sinh học và hạn chế thay nước. Sang giai đoạn 2 và 3, nước được thay định kỳ khoảng 2–3 ngày/lần, tùy thuộc vào các chỉ tiêu môi trường như NH3, pH và tình trạng tảo trong ao.
Đặc biệt, trong quá trình nuôi, hộ thực hiện xét nghiệm tổng vi khuẩn và EHP trên mẫu tôm, mẫu nước ao định kỳ 5–7 ngày/lần và không sử dụng kháng sinh trong suốt quá trình nuôi.
Đợt thả giống đầu tiên được thực hiện ngày 14/1/2026 và đợt thứ hai ngày 5/2/2026, với tổng số 1 triệu con giống tôm sú gia hóa của Công ty Cổ phần CP, mỗi đợt 500.000 con.
Từ ngày 14–20/5/2026, sau khoảng 125 ngày nuôi, tôm đạt kích cỡ khoảng 30 con/kg. Hộ đã thu hoạch 3 ao, sản lượng khoảng 10 tấn, giá bán trung bình 170.000 đồng/kg, trong khi giá thành được báo cáo khoảng 120.000 đồng/kg.
Đáng chú ý hơn, từ ngày 5–12/8/2026, sau khoảng 200 ngày nuôi, tôm đạt kích cỡ khoảng 18 con/kg. Hộ tiếp tục thu hoạch 3 ao, sản lượng khoảng 12 tấn, với giá bán trung bình lên đến 250.000 đồng/kg, giá thành khoảng 160.000 đồng/kg, lợi nhuận từ 80.000 – 90.000 đồng/kg tùy thời điểm, giá bán.
Cán bộ kỹ thuật và đoàn khảo sát kiểm tra trực tiếp tôm tại khu nuôi.
Theo chủ hộ hiệu quả kinh tế bước đầu là điểm đáng chú ý của mô hình. Ước tính dự kiến nếu thu hoạch tại thời điểm hiện tại với diện tích một ao nuôi 1.500 m², mật độ thả 60 con/m² và tỷ lệ sống trung bình 80%, số tôm sống đến thời điểm thu hoạch ước khoảng 72.000 con/ao. sản lượng dự kiến đạt khoảng 3,6–4,8 tấn/ao/vụ. Nếu kích cỡ thu hoạch 15 con/kg, giá bán thời điểm thu hoạch 310.000 đồng/kg sau khi trừ đi các khoản chi phí lợi nhuận từ 70.000-90.000 đồng/kg tùy thời điểm, giá bán thị trường.
Qua khảo sát thực tế, một trong những ưu điểm nổi bật của mô hình là khả năng kiểm soát môi trường nước tốt hơn so với nuôi trên ao đất. Ao được lót bạt giúp người nuôi thuận lợi hơn trong quản lý pH, độ kiềm, khí độc và các yếu tố môi trường khác; đồng thời hạn chế nguồn lây nhiễm từ nền đáy ao.
Đặc biệt, kết quả thực tế cho thấy tôm có khả năng sinh trưởng tốt trong điều kiện độ mặn thấp khoảng 5–10‰ vào thời điểm từ tháng 6 đến tháng 11 hằng năm. Đây là một điểm đáng quan tâm trong điều kiện sản xuất của Cà Mau, nhất là những thời điểm nuôi tôm thẻ chân trắng gặp khó khăn hoặc hiệu quả giảm.
Theo đánh giá của đoàn khảo sát, tôm nuôi có màu sắc tươi sáng, không bị mòn đuôi, cụt râu; khi chế biến, tôm có màu đỏ đẹp. Đây là những yếu tố có thể góp phần nâng cao giá trị thương phẩm và khả năng tiêu thụ sản phẩm.
Cần chủ động nguồn giống và tiếp tục theo dõi hiệu quả
Bên cạnh những kết quả tích cực, mô hình vẫn còn một số vấn đề cần được quan tâm. Chi phí đầu tư ban đầu đối với hệ thống ao lót bạt tương đối cao, đòi hỏi nguồn vốn lớn hơn so với nuôi tôm sú trên ao đất. Đồng thời, nguồn tôm sú giống gia hóa phục vụ nhu cầu sản xuất hiện chưa thật sự ổn định về số lượng và chất lượng.
Từ thực tế khảo sát, đoàn công tác đề nghị chủ hộ tiếp tục theo dõi chặt chẽ quá trình sinh trưởng, phát triển của tôm, ghi chép đầy đủ số liệu đến khi kết thúc vụ nuôi. Trên cơ sở đó, tiếp tục đánh giá hiệu quả kinh tế theo từng mật độ nuôi, kích cỡ thu hoạch và thời gian nuôi nhằm xác định phương án sản xuất phù hợp, mang lại hiệu quả cao hơn.
Đoàn cũng khuyến khích việc áp dụng quy trình nuôi gắn với các tiêu chuẩn chất lượng, an toàn thực phẩm, từng bước nâng cao giá trị sản phẩm, tạo điều kiện hình thành các mối liên kết trong sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ ổn định.
Từ những kết quả bước đầu tại hộ ông Phạm Văn Quyền, mô hình nuôi tôm sú thâm canh trên ao lót bạt cho thấy tiềm năng trong việc tận dụng cơ sở hạ tầng sẵn có, chuyển đổi đối tượng nuôi và thích ứng với điều kiện môi trường có độ mặn thấp.
Điều đáng ghi nhận là mô hình không chỉ hướng đến việc tạo ra sản phẩm tôm sú kích cỡ lớn mà còn đặt trọng tâm vào quản lý môi trường, kiểm soát dịch bệnh, sử dụng thức ăn hợp lý và hạn chế sử dụng hóa chất, kháng sinh.
Đây là những yếu tố phù hợp với định hướng sản xuất tôm theo hướng an toàn, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm. Tuy nhiên, để có cơ sở nhân rộng, cần tiếp tục theo dõi kết quả của các ao còn lại, hoàn thiện việc ghi chép chi phí – doanh thu và đánh giá hiệu quả kinh tế đầy đủ sau khi kết thúc vụ nuôi.
Đoàn khảo sát trao đổi, đánh giá kết quả và định hướng theo dõi mô hình.
Từ thực tiễn sản xuất, mô hình nuôi tôm sú thâm canh trên ao lót bạt đang mở thêm một lựa chọn cho người nuôi tôm Cà Mau trong quá trình thích ứng với biến động môi trường, dịch bệnh và thị trường; đồng thời góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi, khai thác hiệu quả cơ sở hạ tầng và hướng đến nền sản xuất tôm an toàn, bền vững.
Dương Thanh Hậu -TTKN