image banner
QUẢN LÝ BỆNH ĐẠO ÔN CỔ BÔNG VÀ LEM LÉP HẠT GIAI ĐOẠN LÚA ĐÒNG - TRỖ
Lượt xem: 24

Vụ Hè Thu năm nay, toàn tỉnh xuống giống khoảng 94.210 ha. Hiện nay, nhiều trà lúa đang bước vào giai đoạn làm đòng – trỗ bông. Đây là thời kỳ đặc biệt quan trọng, quyết định trực tiếp đến số hạt chắc, khối lượng hạt và năng suất cuối vụ. Tuy nhiên, đây cũng là giai đoạn cây lúa rất mẫn cảm với bệnh đạo ôn cổ bông và lem lép hạt, nhất là trong điều kiện thời tiết mưa nhiều, độ ẩm không khí cao, ruộng giữ ẩm kéo dài. Nếu không được phát hiện và quản lý kịp thời, hai đối tượng bệnh này có thể làm giảm tỷ lệ hạt chắc, giảm năng suất, đồng thời ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng lúa gạo sau thu hoạch.

 

anh tin bai

Ảnh: Bệnh đạo ôn cổ bông

anh tin bai

 Lem lép hạt trên bông lúa.

Đạo ôn cổ bông – nguy cơ trực tiếp làm giảm năng suất

Đạo ôn cổ bông là giai đoạn phát triển nguy hiểm của bệnh đạo ôn. Bệnh thường phát sinh từ thời điểm lúa bắt đầu trỗ và có thể tiếp tục gây hại sau khi lúa trỗ. Nấm bệnh có thể xâm nhiễm trên cổ bông, đốt cổ gié hoặc các bộ phận của bông lúa.

Khi bị bệnh, vị trí cổ bông xuất hiện vết bệnh màu nâu xám, sau đó chuyển nâu đen và có thể bị thắt lại. Nếu bệnh phát sinh sớm và gây hại nặng, cổ bông bị tổn thương làm quá trình vận chuyển nước và dinh dưỡng đến hạt bị gián đoạn. Bông lúa có thể bị lép trắng từng phần hoặc toàn bộ, trong khi một số trường hợp bệnh phát sinh muộn làm hạt bị lửng, giảm trọng lượng.

Điều đáng lưu ý là khi bệnh đã gây hại rõ trên cổ bông thì khả năng phục hồi rất thấp. Vì vậy, đối với đạo ôn cổ bông, biện pháp quan trọng không phải chờ bệnh xuất hiện mới xử lý mà cần chủ động nhận diện ruộng có nguy cơ cao và phòng bệnh đúng thời điểm.

Những ruộng cần đặc biệt lưu ý gồm: ruộng gieo sạ dày, sử dụng lượng giống cao; ruộng bón thừa phân đạm, sinh trưởng xanh tốt; ruộng có tán lá rậm, ẩm độ trong ruộng cao; ruộng đã từng bị đạo ôn lá; ruộng sử dụng giống nhiễm hoặc giống có mức độ chống chịu bệnh thấp; ruộng nằm trong khu vực thường xuyên có mưa, sương hoặc ẩm độ cao vào thời điểm lúa trỗ.

Lem lép hạt – không chỉ làm giảm năng suất mà còn giảm chất lượng gạo

Khác với đạo ôn cổ bông, lem lép hạt thường liên quan đến nhiều tác nhân gây bệnh, trong đó có các nhóm nấm và vi khuẩn gây hại trên bông, gié và vỏ hạt. Bệnh thường phát sinh mạnh từ giai đoạn lúa trỗ đến sau trỗ, đặc biệt khi gặp mưa liên tục hoặc ẩm độ không khí cao.

Triệu chứng thường biểu hiện trên vỏ hạt dưới dạng những đốm hoặc vùng đổi màu, từ vàng nâu, nâu đỏ đến đen tùy tác nhân. Hạt bị bệnh có thể bị lửng, lép, biến màu hoặc giảm chất lượng. Khi tỷ lệ hạt bị bệnh cao, không chỉ năng suất giảm mà màu sắc, chất lượng xay xát và giá trị thương phẩm của gạo cũng bị ảnh hưởng.

Đặc biệt, mưa đúng vào thời điểm lúa trỗ và thụ phấn làm tăng nguy cơ bệnh. Nước mưa và độ ẩm cao tạo môi trường thuận lợi cho tác nhân gây bệnh phát triển, đồng thời làm bông lúa ẩm lâu, tạo điều kiện cho bệnh lây lan.

Những yếu tố làm bệnh phát triển mạnh:

Qua thực tế sản xuất, nguy cơ đạo ôn cổ bông và lem lép hạt thường tăng khi có sự kết hợp của nhiều yếu tố:

- Thời tiết: mưa nhiều, ẩm độ không khí cao, có sương hoặc thời gian lá và bông lúa ướt kéo dài.

- Giống: sử dụng giống mẫn cảm với bệnh hoặc giống có khả năng chống chịu thấp trong điều kiện áp lực bệnh cao.

- Mật độ: gieo sạ quá dày làm ruộng rậm rạp, giảm thông thoáng, tăng ẩm độ trong tán lúa.

- Dinh dưỡng: bón thừa đạm làm cây sinh trưởng quá mạnh, lá xanh đậm, mô cây non và dễ nhiễm bệnh.

- Nguồn bệnh: ruộng đã từng xuất hiện đạo ôn hoặc lem lép hạt trong các vụ trước có nguy cơ cao hơn nếu không quản lý tốt tàn dư và nguồn bệnh.

- Quản lý đồng ruộng: ruộng thoát nước kém, giữ nước hoặc giữ ẩm quá cao trong thời gian dài cũng tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh.

Cách phòng trị bệnh:

Để phòng bệnh hiệu quả cần bắt đầu từ quản lý đồng ruộng, biện pháp canh tác, dinh dưỡng và nước, thay vì chỉ phụ thuộc vào thuốc bảo vệ thực vật:

- Thăm đồng thường xuyên, xác định chính xác thời điểm lúa trỗ. Quan sát tổng thể không nên chỉ quan sát lá mà phải kiểm tra kỹ đòng lúa, cổ bông và bông đang trỗ.

- Đối với những ruộng có nguy cơ cao, cần xác định chính xác thời điểm lúa bắt đầu trỗ để chủ động phòng bệnh. Thông thường, có thể bố trí 2 lần phòng bệnh: Lần 1: trước khi lúa trỗ khoảng 5–7 ngày, nhằm bảo vệ cổ bông trước thời điểm mẫn cảm. Lần 2: khi lúa trỗ tập trung, khoảng 80–90% số bông đã trỗ, nhằm bảo vệ bông và hạt trong thời kỳ thụ phấn, hình thành hạt.

- Trong trường hợp thời tiết có mưa liên tục, ruộng có áp lực bệnh cao hoặc thời gian trỗ kéo dài, cần theo dõi sát tình hình thực tế để có biện pháp xử lý phù hợp theo hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật. Lưu ý, không nên phun theo lịch cố định mà cần căn cứ vào giống lúa, giai đoạn sinh trưởng, tình hình thời tiết và mức độ nguy cơ trên từng ruộng.

- Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo nguyên tắc 4 đúng. Chú ý, đối với đạo ôn, một số nhóm hoạt chất thường được đăng ký sử dụng để phòng trừ bệnh có thể kể đến như Tricyclazole, Isoprothiolane, Fenoxanil và một số hoạt chất khác tùy theo sản phẩm được đăng ký. Đối với nhóm bệnh lem lép hạt, có thể gặp các sản phẩm chứa Azoxystrobin, Difenoconazole, Propiconazole, Tebuconazole hoặc các hỗn hợp hoạt chất được đăng ký sử dụng trên cây lúa.

- Biện pháp quản lý dinh dưỡng: trong giai đoạn làm đòng – trỗ, cần quản lý phân bón hợp lý, tránh tiếp tục bón nhiều đạm khi cây đã xanh tốt. Ưu tiên cân đối dinh dưỡng, chú ý kali và các chất dinh dưỡng cần thiết theo tình trạng thực tế của ruộng.

- Quản lý nước: Không để ruộng khô hạn kéo dài gây ảnh hưởng đến sinh trưởng, nhưng cũng không nên duy trì mực nước quá cao hoặc để ruộng úng kéo dài. Sau mưa lớn cần chủ động tiêu thoát nước khi điều kiện cho phép, giúp ruộng thông thoáng và hạn chế thời gian bông, lá bị ẩm kéo dài.

Không chủ quan trong giai đoạn lúa trỗ

Giai đoạn làm đòng – trỗ bông chỉ diễn ra trong thời gian tương đối ngắn nhưng có ý nghĩa quyết định đối với năng suất cuối vụ. Một bông lúa khỏe, cổ bông không bị bệnh và quá trình thụ phấn, hình thành hạt diễn ra thuận lợi sẽ tạo tiền đề cho tỷ lệ hạt chắc cao.

Vì vậy, trong thời điểm này, bà con cần thực hiện tốt phương châm “thăm đồng thường xuyên – phát hiện sớm – phòng bệnh đúng thời điểm – sử dụng thuốc đúng kỹ thuật”. Đồng thời, quản lý tốt giống, mật độ gieo sạ, phân bón và nước tưới để giảm điều kiện thuận lợi cho bệnh phát sinh.

Chủ động phòng ngừa đạo ôn cổ bông và lem lép hạt không chỉ giúp bảo vệ năng suất mà còn góp phần nâng cao chất lượng hạt lúa, giảm chi phí sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế, hướng đến sản xuất lúa an toàn, chất lượng và bền vững./.

Dương Ngọc – TTKN

Thống kê truy cập
  • Đang online: 9
  • Hôm nay: 443
  • Trong tuần: 5 465
  • Tất cả: 303312